Menu Đóng

Thoại Hà, Vĩnh Tế: Kỳ tích triều Nguyễn kiến tạo Tây Nam Bộ

Trong bối cảnh xã hội dần ổn định vào nửa đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn đã triển khai nhiều công trình trọng điểm nhằm phát triển kinh tế và cải thiện đời sống dân sinh.

Một trong những chính sách nổi bật là việc tận dụng sức mạnh quân đội thông qua mô hình “trại đồn điền” và nguyên tắc “ngụ binh ư nông” để khai hoang, mở rộng diện tích canh tác. Đáng chú ý hơn cả là tầm nhìn chiến lược của triều đình khi khởi công các dự án thủy lợi quy mô lớn tại vùng đất cực Nam, điển hình là việc đào kênh Thoại Hà nối liền Long Xuyên – Rạch Giá và kênh Vĩnh Tế liên kết Châu Đốc – Hà Tiên. Những công trình này không chỉ kiến tạo một hệ thống giao thông, thủy lợi huyết mạch, thúc đẩy nông nghiệp và thương mại, mà còn có vai trò then chốt trong việc củng cố an ninh, bảo vệ vùng biên giới phía Tây Nam Bộ.

Công Cuộc Khai Đào Kênh Thủy Lợi Vùng Biên Giới Tây Nam

Nhắc đến những kỳ tích khai hoang và trị thủy tại vùng đất phương Nam, công lao của vợ chồng danh thần Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại) và phu nhân Châu Thị Tế luôn được người dân kính trọng và ghi nhớ. Hai con kênh do ông bà kiến tạo, Thoại HàVĩnh Tế, không chỉ là những thành tựu vĩ đại về giao thông đường thủy và giải pháp thủy lợi, giúp luân chuyển nước, tháo chua rửa phèn ra vịnh Thái Lan, mà còn đóng vai trò như những hào lũy tự nhiên kiên cố, củng cố vững chắc an ninh biên giới phía Tây của Tổ quốc.

Thoại Ngọc Hầu, tên thật Nguyễn Văn Thoại, sinh năm 1761 tại làng An Hải, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam (nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng). Trong giai đoạn loạn lạc Trịnh – Nguyễn phân tranh, gia đình ông đã phải di cư vào Nam và cuối cùng định cư tại làng Thới Bình trên Cù lao Dài (nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 1775. Tại đây, ông gặp gỡ và kết duyên cùng bà Châu Thị Tế vào năm 1788. Sau này, ông đã gia nhập đội quân của chúa Nguyễn và tận tâm phò tá.

Phu nhân Châu Thị Tế, còn được biết đến với tên Châu Thị Vĩnh Tế, sinh năm Bính Tuất (1766) tại làng Cù lao Dài, xã Quới Thiện, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Bà là con gái lớn của ông Châu Vĩnh Huy và bà Đỗ Thị Toán, những người đã đến lập nghiệp tại thôn Thới Bình (nay thuộc xã Thanh Bình, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long) vào cuối thế kỷ XVIII.

Năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua Gia Long, mở đầu vương triều Nguyễn, Nguyễn Văn Thoại nhờ công lao phò tá đã được triều đình trọng dụng, giữ nhiều chức vụ quan trọng như Trấn thủ Lạng Sơn, Trấn thủ Định Tường, Bảo hộ Chân Lạp. Đặc biệt, vào năm 1817, ông được bổ nhiệm làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, một vùng đất rộng lớn bao gồm các tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên và một phần Kiên Giang ngày nay.

Trong những năm tháng làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Thoại Ngọc Hầu đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế và xã hội của vùng. Ông chủ trương quy tụ dân cư, lập ấp, mở mang đường giao thông và đặc biệt là việc thành lập 5 làng trên Cù lao Dài (còn gọi là Trường Châu), thuộc huyện Vĩnh Trị, trấn Vĩnh Thanh (nay là huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long). Tuy nhiên, công lao vĩ đại nhất của ông được ghi nhận qua các công trình thủy lợi đồ sộ tại vùng biên địa Tây Nam, đặc biệt là tỉnh An Giang, mà giá trị của chúng vẫn còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Vào thời kỳ này, đời sống của cư dân miền Tây Nam Bộ còn gặp nhiều khó khăn do thiếu một hệ thống giao thông thủy bộ kết nối hiệu quả. Phần lớn việc di chuyển và liên lạc giữa các khu vực duyên hải như Hà Tiên, Kiên Giang với vùng đồng bằng sông Cửu Long đều phải đi bằng đường biển, vừa xa xôi vừa tiềm ẩn nhiều nguy hiểm. Nhận thấy điều này, cuối năm 1817, Nguyễn Văn Thoại đã tấu trình và được vua Gia Long chấp thuận cho đào một con kênh quan trọng, chảy từ huyện Đông Xuyên, trấn An Giang, sang Kiên Giang, tạo nên một thủy lộ huyết mạch liên kết hai khu vực trù phú.

Công trình đào kênh Thoại Hà, có quy mô rộng lớn như một dòng sông, nối liền Long Xuyên và Rạch Giá, nhanh chóng trở thành tuyến đường huyết mạch cho cư dân vùng cực Nam Tổ quốc. Tàu bè đi lại tấp nập, hoạt động thương mại nhờ đó mà phồn thịnh. Theo ghi chép trong Đại Nam thực lục, con kênh này rộng hơn 10 trượng (khoảng hơn 40m), sâu 18 thước (khoảng 7,2m) và dài 12.410 tầm (tương đương khoảng 37km). Công trình được hoàn thành chỉ trong vòng một tháng. Sau khi Nguyễn Văn Thoại vẽ bản đồ và gửi sớ tấu về triều, vua Gia Long rất hài lòng và ban dụ lấy tên ông đặt cho kênh là Thoại Hà, đồng thời ngọn núi Sập (Lạp Sơn) nằm cạnh bờ kênh cũng được đổi tên thành Thoại Sơn.

Không dừng lại ở đó, năm 1817, vua Gia Long tiếp tục nhận thấy tầm quan trọng của việc khai thông thủy lộ từ Châu Đốc đi Hà Tiên, cũng là nguyện vọng của nước láng giềng Chân Lạp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và sinh hoạt của người dân trong vùng. Vua đã ra lệnh cho Thoại Ngọc Hầu khởi công đào kênh này, với sự phụ tá của Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên và Điều bát Nguyễn Văn Tồn.

Dự án đào kênh nối từ Châu Đốc đến Hà Tiên được khởi công vào ngày rằm tháng Chạp năm Kỷ Mão (30/1/1820). Tuy nhiên, công trình gặp phải nhiều trở ngại, có thời điểm phải tạm ngưng thi công. Ban đầu, khoảng 10.500 quân lính và dân phu người Việt và Khmer được huy động. Về sau, do tính chất khó khăn của công việc, số lượng nhân công phải tăng lên đến hơn 55.000 người. Nếu tính tổng cộng trong hơn 4 năm đào kênh, các quan phụ trách đã huy động tới hơn 90.000 dân binh. Mãi đến tháng 5 âm lịch năm 1824, con kênh mới được hoàn thành. Kênh có chiều rộng 15 tầm (khoảng 45m), sâu 6 thước (khoảng 2,4m), dài 140 dặm (khoảng 70km), tiếp nối với con sông cũ ra đến biển Hà Tiên, tổng chiều dài lên đến 205 dặm (khoảng 102km). Nhận thấy lợi ích to lớn của con kênh đối với đời sống người dân hai vùng Châu Đốc – Hà Tiên, nhà vua đã hết lời khen ngợi Nguyễn Văn Thoại và lệnh cho quan địa phương dựng bia đá bên bờ sông để ghi nhớ công lao của ông.

Phu nhân Châu Thị Tế, chính thất của Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, được biết đến là người vợ hiền đức, tận tụy và đảm đang, đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp lừng lẫy của chồng. Bà là người có công lớn trong việc hỗ trợ chồng đào kênh thủy lợi, góp phần mở mang và phát triển vùng đất Tây Nam Bộ. Điển hình là trong công cuộc đào kênh từ Châu Đốc đến Hà Tiên kéo dài suốt 5 năm (1820-1824), huy động hàng vạn nhân công. Dự án phải tạm ngưng thi công đến 4 lần do điều kiện khắc nghiệt nơi đồng không mông quạnh, chướng khí, thiếu thốn lương thực, thuốc men và dịch bệnh hoành hành khiến nhiều nhân công ốm đau. Với quyết tâm sắt đá, cuối cùng con kênh đã hoàn thành. Đây là một công trình lớn đáng tự hào lúc bấy giờ, vừa là đường hào bảo vệ biên cương, vừa thuận tiện cho thuyền bè qua lại, vừa giúp tưới tiêu cho một vùng ruộng đồng rộng lớn. Sự xuất hiện của kênh Vĩnh Tế đã thúc đẩy hình thành nhiều thôn làng mới dọc hai bên bờ kênh như làng Vĩnh Tế (còn gọi Vĩnh Tế thôn), Vĩnh Ngươn, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Vĩnh Thông…

Thành công của Nguyễn Văn Thoại trong đại công trình đào kênh từ Châu Đốc đến Hà Tiên luôn có sự góp sức to lớn của phu nhân Châu Thị Tế. Khi được triều đình giao trọng trách vào năm 1819, với mục tiêu nối thông dòng chảy từ sông Châu Đốc ra vịnh Thái Lan, trải dài theo biên giới Tây Nam của Tổ quốc, Nguyễn Văn Thoại đã lao tâm khổ tứ rất nhiều. Ở nơi dân cư thưa thớt, việc tổ chức hậu cần, đảm bảo dân phu được cung cấp đầy đủ ăn uống để duy trì sức khỏe làm việc lâu dài là một thách thức không hề nhỏ. Chính bà Châu Thị Tế đã giúp chồng giải quyết nhiều vấn đề nan giải, tận tụy chăm lo công tác hậu cần, chỉ huy vận chuyển lương thực, thuốc men phục vụ dân phu. Bà luôn quan tâm chăm sóc chồng, động viên ông những lúc mệt mỏi hay nản lòng. Khi chồng bận công cán tuần tra biên ải, bà đã thay chồng đôn đốc, giám sát việc đào kênh. Tiếng nhân đức của bà được nhân dân truyền tụng, đến nỗi trong dân gian có câu: “Nước Nam trai sắc gái tài/Gương bà Châu thị lưu đời ngàn năm.”

Trước đó, sau khi đào xong kênh nối liền Long Xuyên – Rạch Giá, vua Gia Long đã lấy tên của ông là Nguyễn Văn Thoại đặt cho kênh là Thoại Hà. Do đó, kênh Châu Đốc – Hà Tiên không thể mang tên ông. Vua Minh Mạng, xét đến công lao của phu nhân ông là bà Châu Thị Tế, người thuộc dòng họ Châu Vĩnh danh giá trong vùng, và bản thân bà đã tận tâm, tận lực giúp chồng hoàn thành công tác đào kênh thủy lợi suốt mấy năm ròng, bèn quyết định đặt tên cho con kênh Châu Đốc – Hà Tiên là Vĩnh Tế Hà (người đời sau gọi là kênh Vĩnh Tế). Ngọn núi Sam nằm gần bờ kênh cũng được đặt tên là Vĩnh Tế Sơn. Kể từ đó, con kênh này đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế và đời sống cư dân vùng Châu Đốc – Hà Tiên. Với giá trị kinh tế và vai trò chiến lược quan trọng về quốc phòng, vào năm 1836 (Minh Mạng thứ 17), hình tượng kênh Vĩnh Tế đã được chạm khắc vào Cao đỉnh, một trong Cửu đỉnh lớn nhất, thờ vua Gia Long (Thế tổ Cao Hoàng đế) đặt trước sân Thế miếu (Đại nội Huế).

Châu Thị Tế còn đóng góp nhiều công sức trong việc tổ chức khai khẩn và đào kênh xuyên qua địa phận hai tỉnh An Giang và Kiên Giang, mà công trình này được xem là nền tảng kinh tế để người Việt khẳng định chủ quyền trên vùng đất mới. Với những cống hiến to lớn, bà đã được vua Minh Mạng phong là Nhất phẩm Phu nhân.

Việc sử dụng tên bà Châu Thị Tế để đặt cho những địa danh trên vùng đất mới đã minh chứng cho công lao vĩ đại của bà. Trong văn bia “Phụng đặc tứ danh Vĩnh Tế sơn bi ký” (Bia chép núi Vĩnh Tế do vua đặc biệt ban tên), gọi tắt là bia Vĩnh Tế Sơn, do Thoại Ngọc Hầu biên soạn, đã dành cho phu nhân Châu Thị Tế những lời lẽ ca ngợi sâu sắc: “…Năm trước đây, thần phụng mệnh coi sóc việc đào kênh Đông Xuyên, vua đã lấy danh tước thần nêu lên bên bờ kênh núi Sập mà đặt tên núi là Thoại Sơn. Đến nay, hoàng ân lại xét đến lòng thần, cho là biết tề gia hợp hòa khí, lại hạ cố đến vợ thần là Châu Thị Tế, cho rằng có đức dày trong đường lễ giáo, bên trong biết giúp đỡ chồng, một lòng trung thành bền chặt, có chút công lao, nên xuống lệnh ban cho tên núi Sam là Vĩnh Tế sơn…”

Tầm Quan Trọng Của Những Con Kênh Vùng Biên Địa Tây Nam Bộ

Sự ra đời của kênh Thoại Hà (năm 1818) và kênh Vĩnh Tế (giai đoạn 1819 – 1824) vào thời điểm đó được xem là một bước đột phá chiến lược, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình khai hoang, lập ấp và mở rộng lãnh thổ. Đồng thời, những công trình thủy lợi này còn là cơ sở vững chắc, giúp vương triều Nguyễn tiếp tục hoạch định các kế sách củng cố quyền lực và tạo dựng niềm tin cho việc khai đào những con kênh mang tầm chiến lược tiếp theo. Khi hệ thống kênh hoàn chỉnh, người dân đổ về đây tìm đất hoang để khai phá và lập làng mới. Các thôn xóm mới dần mọc lên xen kẽ với những làng xóm cũ, tạo nên sự đông đúc và trù phú dọc hai bên bờ kênh, từ đó đẩy nhanh quá trình định cư và phát triển vùng đất mới ở Nam Bộ của người Việt.

Việc tổ chức đào kênh thủy lợi tại miền biên địa phía Tây sông Hậu là một phương pháp phòng bị biên cương mới mẻ của nhà Nguyễn, chưa từng có tiền lệ. Đó là việc thiết lập một hệ thống kênh nối liền các trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng của vùng, không chỉ phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc giữ nước. Nước ngọt từ sông Hậu chảy qua kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế rồi đổ ra Biển Tây. Vào mùa mưa, lượng nước trên sông Hậu rất lớn, do đó các kênh còn đóng vai trò điều tiết thủy văn, giảm thiểu ngập lụt ở phía hạ nguồn. Tuy nhiên, giá trị lớn hơn cả là khả năng tháo chua rửa mặn ở vùng Tứ giác Long Xuyên. Nhờ đó, đất đai dần được ngọt hóa, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho sản xuất nông nghiệp. Đây được xem là bước đột phá vô cùng độc đáo và sáng tạo dưới ba đời vua đầu tiên của nhà Nguyễn là Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị, với ba công trình thủy lợi lừng danh trên vùng biên địa Tây Nam còn lưu danh hậu thế: kênh Thoại Hà (1818), kênh Vĩnh Tế (1819 – 1824) và kênh Vĩnh An (1843 – 1844).

Nếu kênh Thoại Hà là công trình mở đầu, giữ vị trí cực kỳ thiết yếu. Bên cạnh giá trị kinh tế to lớn trong việc khai hoang phục hóa, cải tạo một vùng đồng bằng rộng lớn dọc hai bên bờ kênh để phát triển sản xuất nông nghiệp và an dân lập ấp, kênh Thoại Hà còn thể hiện tầm chiến lược quan trọng về mặt quốc phòng. Con kênh thông suốt từ sông Hậu ra đến biển Tây, từ khu vực Đông Xuyên (Long Xuyên) đến Rạch Giá. Nhờ đó, khi có chiến sự, đồn Rạch Giá có thể dễ dàng rút lui về Trấn Giang theo đường thủy nếu thất thủ. Mặt khác, quân đội có thể nhanh chóng điều động lực lượng từ hệ thống phòng thủ ở Cửu Long Giang sang ứng cứu, khắc phục nhược điểm lớn trong thời các chúa Nguyễn.

Ngoài ra, kênh Thoại Hà vừa mang tính chất của một công trình quân sự, vừa có tác dụng kinh tế quan trọng, làm thay đổi bộ mặt của toàn bộ khu vực rộng lớn từ Long Xuyên đến Rạch Giá. Con kênh đã tạo điều kiện lưu thông thuận lợi từ sông Cửu Long ra biển Tây và ngược lại, không chỉ giúp các thương thuyền qua lại dễ dàng mà còn thuận tiện cho việc vận chuyển quân lương bằng đường thủy giữa hai khu vực. Từ đây, khu vực từ Rạch Giá đến Cà Mau thực sự được chính quyền nhà Nguyễn kiểm soát thông qua các thủy đạo nội địa đã được thông dòng từ Gia Định đến biển Tây. Đây là con kênh có giá trị quân sự to lớn trong công cuộc phòng thủ đất nước buổi đầu khai hoang mở đất; không chỉ là cơ sở khẳng định chủ quyền biên giới quốc gia của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ, mà còn là nền tảng trực tiếp cho công tác phòng thủ biên giới Tây Nam của vương triều Nguyễn, để lại lợi ích muôn đời cho hậu thế.

Đối với con kênh Vĩnh Tế, được đào song song với đường biên giới Việt Nam – Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc thuộc xã Vĩnh Ngươn (thị xã Châu Đốc, An Giang) và nối thẳng với sông Giang Thành, thuộc thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Con kênh này đã mang lại lợi ích to lớn trong việc tưới tiêu cho hàng vạn mẫu ruộng miền Hậu Giang và tạo điều kiện đi lại bằng đường thủy vô cùng thuận lợi. Cho đến ngày nay, kênh Vĩnh Tế vẫn còn giá trị lớn về các mặt trị thủy, giao thông, thương mại và biên phòng, thể hiện sức lao động sáng tạo xây dựng đất nước của nhân dân Việt và chính sách coi trọng thủy lợi để phát triển nông nghiệp của triều Nguyễn. Đây là công trình quy mô nhất thời bấy giờ, không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược của chính quyền nhà Nguyễn mà trên thực tế đã phát huy được vai trò và lợi ích to lớn đối với chính trị, an ninh quốc phòng, đối ngoại cũng như việc phát triển vùng biên viễn trên toàn bộ khu vực phía Tây Nam từ Châu Đốc đến Hà Tiên.

Nhìn trên bản đồ, kênh Vĩnh Tế không chỉ là một “con đường” giao thông đường thủy để buôn bán, đi lại, phát triển thương mại hoặc đưa nước ngọt của sông Cửu Long vào các khu đồng ruộng mênh mông để rửa sạch chất muối, chất phèn cho mùa màng thêm tươi tốt, phát triển sản xuất nông nghiệp; mà còn có vai trò quan trọng là đường ranh giới chiến lược trong bảo vệ an ninh biên giới, quốc phòng trên vùng đất Tây Nam Bộ nói riêng và vùng đất Long Hồ dinh nói chung. Đây thực sự là tinh hoa trí tuệ của các bậc tiền nhân trong những vấn đề “kinh bang tế thế”.

Để có được những công trình thủy lợi vĩ đại và giá trị to lớn tồn tại cho đến ngày nay, rất nhiều người đã hy sinh trong quá trình đào kênh do không chịu nổi điều kiện thời tiết khắc nghiệt và công việc nặng nhọc. Đặc biệt, khi nhắc đến kênh Thoại HàVĩnh Tế, công lao to lớn nhất thuộc về Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Văn Tồn và biết bao dân phu khác. Đây là những công trình vĩ đại được dựng xây bởi bàn tay con người, chứa đựng những giá trị lớn lao mà cho đến tận bây giờ nó vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống người dân vùng biên giới Tây Nam Bộ, đồng thời là niềm tự hào lớn lao của người dân Long Hồ dinh nói riêng và vùng đất Nam Bộ nói chung.

Đã tồn tại hơn 200 năm nay, đúng như mục đích ban đầu của việc đào kênh, những con kênh Thoại HàVĩnh Tế không chỉ giúp phương tiện đường thủy lưu thông tiện lợi mà còn làm rất tốt vai trò gìn giữ biên cương xã tắc. Đồng thời, những con kênh này cũng góp phần không nhỏ trong việc đưa nước ngọt của sông Cửu Long vào tháo chua, rửa phèn cho ruộng đồng ngày một thêm màu mỡ, giúp làng quê nơi đây mỗi ngày thêm sầm uất và phát triển phồn thịnh.